Showing posts with label Cây Thảo Dươc. Show all posts
Showing posts with label Cây Thảo Dươc. Show all posts

Những Loại Cây húng thơm

* LOẠI CÂY RAU HÚNG * 
Cây Húng Chanh :
- Húng chanh là một trong những loại rau thơm quý ở nước ta. Cây thân thảo, sống lâu năm, cao 20–50 cm. Phần thân sát gốc hoá gỗ. Lá mọc đối, dày cứng, giòn, mép khía răng tròn. Thân và lá dòn, mập, lá dày có lông mịn, thơm và cay. Toàn cây có lông rất nhỏ và thơm như mùi chanh nên được gọi là húng chanh.
pham vu bao cay hung chanh
Cây Húng Chanh
- Đây cũng là vị thuốc thông dụng chữa ho và viêm họng, được Bộ Y tế xếp vào danh mục 70 cây thuốc Nam thiết yếu. Theo từ điển Cây thuốc và động vật làm thuốc (nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật), húng chanh chứa tinh dầu, thành phần chủ yếu là carvacrol có tác dụng ức chế mạnh các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp.

-Trong Đông y, húng chanh có tác dụng phát tán phong hàn, tiêu đờm, sát khuẩn, dùng để chữa ho, viêm họng, cảm cúm, hen suyễn, sốt…


* Cây Rau Húng Lủi :
-Rau húng lủi thuộc cây thảo, được gọi với nhiều cái tên khác nhau, tùy theo địa phương, đây là loại cây có nguồn gốc từ hoang dã, mùi thơm đặc trưng thường được dùng làm rau sạch, chế biến với nhiều món ăn, ngoài ra cây còn được sử dụng để chế biến thành nhiều loại thảo dược chữa bệnh, xua đuổi muỗi.
Cây Húng Lủi
Cây rau húng lủi

Tên gọi khác: Cây húng lủi, cây húng lũi, cây húng nhủi, cây húng dũi, cây húng láng, một số nơi còn gọi ngắn gọi là rau húng.

Tên khoa học: Mentha aquatica
Họ thực vật: Họ Hoa môi
Cây có nguồn gốc hoang dã, phân bố chủ yếu ở một số nơi tại châu Âu, châu Phi, châu Á.

* Đặc điểm hình thái:
Cây húng lủi thuộc loại cây thảo, cây có nguồn gốc hoang dã nên có sức sống khỏe, phát triển nhanh.
Cây có thân rễ mọc bò thành chùm dưới đất.
Lá cây húng lủi nhỏ, thuôn dài, mép lá khía răng cưa.
Cây húng lủi có mùi thơm rất đặc trưng, dễ nhận biết thường được dùng làm gia vị, ăn sống.
Cây Húng Lủi
* Công dụng: Cây Húng Lủi

- Trồng làm rau sạch: Húng lủi là rau không thể thiếu trong các bữa ăn, cây được dùng để làm gia vị ăn sống, được chế biến kèm với nhiều món tạo hương vị đặc biệt. Đây là một là rau ngon, lại có sức sống tốt, phát triển nhanh nên hiện tại cây được trồng tại nhiều gia đình bằng hình thức trồng húng lủi trong chậu, trong thùng sốp hoặc chai nhựa.

- Ngoài ra cây còn được nhiều người sử dụng như một loại thảo dược, phòng chống nhiều loại bệnh, trong cây húng lủi còn có một số chất giúp vệ sinh răng miệng, giữ hơi thở thơm tho.
Một chậu cây húng lủi còn là giải pháp tiệc vời giúp xua đuổi muỗi khỏi ngôi nhà của bạn.


* Cây Rau Húng Quế :
-Húng quế còn gọi là húng giổi hay é tía, có tên khoa học Ocimum basilicum L, thuộc chi Ocimum.

Đây là loài cây thân thảo, cao 50-60cm, là cây gia vị có mùi thơm đặc biệt. Lá húng đơn, mọc đối, màu lục, hơi khía răng ở mép. Hoa nhỏ màu trắng hay hơi tía, mọc thành chùm đơn. Quả chứa hạt đen bóng, khi ngâm vào nước có chất nhầy màu trắng bao quanh.
Cây Húng Quế
-Lá húng quế có vị cay, tính nóng, mùi thơm dịu, có tác dụng kích thích sự hấp thụ, làm ra mồ hôi, lợi tiểu, lương huyết, giảm đau nên được sử dụng làm gia vị. Hoa có tính chất lợi tiểu, bổ thần kinh. Quả có vị ngọt và cay, tính mát; kích thích thị lực.

-Ngoài ra, cành và lá húng quế còn được dùng trị: sổ mũi, đau đầu, đau dạ dày, đầy bụng, kém tiêu hoá, viêm ruột, tiêu chảy, kinh nguyệt không đều…


-Húng quế có mùi thơm đặc trưng giúp tăng hương vị nên được dùng ăn với các món nước như phở, hủ tiếu, bún riêu hoặc các món cuốn như bánh xèo, gỏi cuốn..



* Cây Rau Húng Tây:

-Húng quế Tây hay quế châu Âu (sweet basil) rất thơm, mùi hăng đậm, ngọt và mát. Thực ra basil là húng quế nhưng Việt Nam gọi để phân biệt với húng quế của mình. Cái tên basil lấy từ tiếng Hy Lạp basilikohn, có nghĩa "đế vương," do người Hy Lạp xưa rất quý basil vì họ dùng nó làm nên nhiều loại thuốc
Cây Rau Húng Tây
 -Quế Tây thường có lá trơn, hình tròn bầu dục, vị không the bằng nhưng rất dậy hương và thường được dùng ăn sống hoặc gia vào làm gia vị cho các món mì Ý (pasta), salad, thịt nướng, pizza. Quế Tây đặc biệt thích hợp làm các loại xốt cà chua, xốt pho mát, xúp cà chua, xúp pho mát.






Vị Thuốc Đa Năng Từ Cây Lựu

 Cây lựu được trồng nhiều Ở Việt Nam ,  để lấy quả ăn, làm thuốc và làm cảnh. Cả cây lựu đều làm thuốc chữa bệnh. Từ xưa quả lựu được ca tụng về cả 2 phương diện dinh dưỡng và trị liệu. Thành phần hóa học: dịch quả chứa acid citric, ac.malie, các đường glucoza, fructoza, mantoza…Vỏ quả và vỏ rễ chứa nhiều tanin, granatin, hoạt chất peletierin, izopeletierin, ac.betulic, ac.usolic và iso quercetin. Nước ép lựu là nguồn kali, vitamin C và các chất chống ôxy hoá quý. Theo Đông y vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chỉ tả, chỉ huyết, khử trùng. Vỏ thân, vỏ rễ vị đắng chát, tính ấm, sát trùng. Vỏ thân rễ dùng tẩy sán.


 Một số cách dùng quả lựu chữa bệnh:
- Lao phổi, viêm phế quản mạn tính ở người già: quả lựu tươi chưa chín 1 quả, bóc lấy hạt ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.
- Trẻ em có tích trệ ăn không tiêu, có ký sinh trùng đường ruột dùng nước ép hạt lựu thêm đường và nước cho uống. Tuy hiệu quả kém nhưng an toàn hơn vỏ rễ lựu.
- Phòng chữa cam tích ở trẻ em (thực tích, thực trệ, tiêu chảy…): lấy quả lựu muối nấu cháo cho trẻ ăn.
Quả lựu muối làm như sau: hái quả lựu chín tốt nhất là những quả chín nứt vỏ, cho vào thố (vại, lọ…), rắc muối, đậy kín đem phơi nắng, mỗi ngày trở vài lần. Một thời gian vỏ lựu mềm, nước từ trong quả lựu thoát ra ngoài hoà lẫn nước muối. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi khô nước thì lấy lựu ra cất vào hũ. Cất càng lâu công hiệu càng cao.
- Thanh thử, giải nhiệt, ngừa ra nhiều mồ hôi vào mùa hè - nấu canh cho một số hạt lựu tươi. Canh này còn phòng chữa chứng đau đầu ở phụ nữ và giúp trẻ em tiêu hoá tốt.
- Thực tích (do ăn nhiều thịt) khó tiêu, trĩ và ra máu, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều: dùng quả lựu muối nấu với canh thịt heo ăn.

- Viêm loét trong miệng: lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt giã nát, ngâm vào nước sôi rồi lọc lấy nước để nguội ngậm nhiều lần trong ngày.
- Tiêu hoá kém, đau bụng, tiêu chảy: lựu 2-3 quả bỏ vỏ lấy cùi với một bát rưỡi nước sắc lấy nửa bát rồi đổ vào một ít mật ong, uống làm 2-3 lần trong ngày.
- Đại tiện ra máu, tiêu chảy kéo dài: ruột quả lựu sấy khô, tán bột. Mỗi lần 10-12g với nước cơm. Hoặc 1 quả lựu tươi nguyên vỏ giã nát sắc với mấy hạt muối để uống.
- Sâu răng: vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm nghiêng về phía răng sâu.
- Khô miệng, viêm họng, loét lưỡi: bóc lấy hạt của 1-2 quả lựu tươi nhai chậm kỹ nuốt nước.
- Trĩ loét chảy máu: vỏ quả lựu 50 - 100g sắc lấy nước xông rửa hậu môn.
- Nước ngâm rửa khi bị đới hạ, khí hư: vỏ quả lựu 30g, phèn chua 10g sắc lấy nước ngâm rửa.
- Ghẻ ngứa: vỏ quả lựu sắc để ngâm, tán bôi lên chỗ tổn thương - có thể ngâm vào rượu hoặc cồn để dùng hoặc lá lựu tươi giã nhuyễn xoa xát.
Kiêng kỵ: - Lựu và bưởi chùm có tương tác với một số thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp (nitatin). Do đó nếu dùng phải thận trọng và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.
- Không dùng lựu cùng củ cải.

Nguồn: Sức khỏe và Đời sống

Bệnh Trĩ Và Cây Thiên Lý trồng Ở Quanh Nhà .

Thiên lý,  một loại cây thân quen với người dân Việt Nam, là một cây thuốc quý không chỉ cho ta bóng mát hương thơm, hoa thiên lý là món ăn khá phổ biến trong các gia đình Việt Nam mà còn được dùng làm thuốc chữa bệnh trĩ và sa dạ con hiệu nghiệm.
Cây Thiên lý (còn được gọi là cây hoa lý, hoa thiên lý, dạ lài hương) thân cây nhỏ, mọc leo, thân hơi có lông, nhất là ở những bộ phận còn non. Lá hình tim, thuôn, đầu lá nhọn, có lông trên các gân lá. Hoa khá to, nhiều, màu vàng xanh lục nhạt, rất thơm, thành xim tán, có cuống to, hơi có lông, dài 10-20mm, mang nhiều tán mọc mau liền với nhau.
pham vu bao

Cây Thiên lý được trồng khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại miền Bắc để làm cảnh và lấy hoa, lá nấu canh ăn. Trong lá và thân Thiên lý có chất ancaloid . Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường chỉ dùng hoa và lá Thiên lý non để nấu canh ăn cho mát và bổ. Lá tươi của cây Thiên lý chữa bệnh trĩ (lòi dom) rất công hiệu. Thầy thuốc đã chữa cho nhiều người khỏi bệnh, kể cả những người bị trĩ cấp độ 3 có búi trĩ lòi hẳn ra ngoài. Bài thuốc này đặc biệt công hiệu cho những người bị trĩ do nội nhiệt, do uống rượu bia nhiều dẫn đến đi ngoài có máu, rát hậu môn.

 Bài thuốc trị trĩ của lá thiên lý :

Cách chữa trị như sau: Lá Thiên lý 100g (một nắm to), muối ăn 5g (thìa cà-phê). Hái lá Thiên lý non và lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nhỏ với muối, thêm chừng 30ml nước đun sôi còn ấm, lọc qua vải gạc. Dùng nước này tẩm vào bông đắp lên chỗ dom đã rửa sạch bằng thuốc tím. Băng như đóng khố. Ngày làm một, hai lần. Kết hợp với uống 3 đến 4 bát nước lá Thiên lý tươi một ngày. Trong vòng 3 – 4 ngày thường khỏi. Bài thuốc này còn có thể chữa bệnh dạ con: cũng dùng như trên. Thường lưu ý: bắt buộc phải dùng tươi, không được nấu chín. Với những người cơ thể hàn thì không được uống mà chỉ đắp bên ngoài.
            siêu tầm 

Tía Tô Sắc Với Gừng Uống Giải Độc


     Theo Đông y , tía tô có vị cay, tính ôn vào hai kinh Tỳ, phế. Có tác dụng phát tán phong hàn, lý khí, khoan trung. Tía tô sắc tía nên vào huyết phận thông mạch hoà doanh. An thai, giải được chất độc của cá và cua.
Tía tô là một loại cây cao chừng 0,3 - 1m thân thẳng đứng, lá mọc đối, đầu lá nhọn, mép lá răng cưa, có màu tím hoặc xanh tím.
Trên lá có lông, hoa nhỏ màu trắng hoặc tím nhạt, quả nhỏ hình cầu màu nâu nhạt. Tía tô được trồng khắp nơi để lấy lá làm gia vị và làm thuốc. Sau đây là những phương thuốc thường dùng có vị tía tô.

Chữa chứng ăn phải cua cá bị trúng độc, bụng đau, nôn oẹ:
- Bài 1 - Dùng lá tía tô tươi 100 gam vắt lấy nước uống;
- Bài 2 - Lá tía tô 10 gam, gừng tươi 6 gam, cam thảo 4 gam. Sắc uống.

Chữa thương phong phát nóng, lạnh, nhức đầu ra mồ hôi, ho suyễn, hắt hơi, sổ mũi dùng hạnh tô ẩm: 
- Hạnh nhân, cát cánh, chỉ xác, tang bạch bì, hoàng cầm, cam thảo, mạch môn, bối mẫu, trần bì (mỗi thứ 4 gam).Tử tô 6 gam, gừng tươi 2gam. Sắc uống.

Chữa động thai:
- Tử tô ẩm (Đương quy 6g, xuyên khung 4g, bạch thược 4g, trần bì 2g, đại phúc bì 2g, cành và lá tía tô 6g) sắc uống.

Chú ý: Cần phân biệt được cây tía tô với cây tía tô mọc hoang hay còn gọi là cây tía tô giới.

Lương y Phạm Hữu Vệ  

cây cà rì (ấn độ)(cây methi)

Thảo dược Methi ( cây cà ri ấn độ )
Hạ đường huyết - Giảm Cholesterol
Cây Methi hay được gọi là cây fenugreek, cỏ cà ri, cỏ Hy Lạp có tên khoa học là Trigonela foenum graecum thuộc họ đậu. Bộ phận trên cây Methi thường dùng làm thuốc đó là hạt và lá. Cây Methi được trồng nhiều và sử dụng làm thuốc, thực phẩm hơn 4000 năm qua tại các nước: Ấn Độ, Tây Ban Nha, Pháp, Monaco, Ý, Malta, Slovenia, Albani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Israel, Libya, Algerie, Morocco, …
Nghiên cứu cho thấy trong hạt methi có chứa rất nhiều nhóm hoạt chất rất hữu ích cho sức khỏe như protein, khoáng tố 3% gồm sắt, calci, phosphor, magnesium, kali, natri, kẽm, đồng, mangan, vitamin C, acid folic, vitamin nhóm B như thiamin, riboflavin, niacin, và nhiều chất xơ, chất nhày. Trong hạt còn có các alcaloid như trigonellin, cholin, saponin, chất dầu, flavonoid...
Giảm cholesterol

cây methi ấn độ

Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tiêu thụ hạt methi giúp giảm mức cholesterol trong máu. Một nghiên cứu tại Medical College (Ấn Độ) đã tiến hành đo nồng độ cholesterol trong máu của 60 người (không dùng bất cứ thuốc hạ cholesterol nào). Sau đó, những người tham gia chỉ được ăn một chén xúp có chứa khoảng 20 g hạt methi trước hai bữa ăn trưa và ăn tối hàng ngày. Sau 4 tuần tiêu thụ đã thấy mức cholesterol của họ bắt đầu giảm với tỷ lệ được ghi nhận 14%. Điều này chính là do hạt methi làm giảm mức độ lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) một cách đáng kể. Hạt methi còn chứa 25% galactomannan, đây là một loại chất xơ hòa tan tự nhiên, nhờ đó ăn hạt methi mỗi ngày còn giúp ngăn chặn các bệnh tim mạch, huyết áp, cải thiện hệ tuần hoàn.
Hạ thấp glucose trong máu
Những người bị bệnh tiểu đường type 2, nếu mỗi ngày dùng 20 - 25 g hạt methi sẽ giúp hạ thấp lượng glucose trong máu. Theo một nghiên cứu từ các chuyên gia Ấn Độ khi họ cho thêm hạt methi vào khẩu phần ăn của các bệnh nhân thuộc tiểu đường type 1, sau đó ghi nhận đường trong nước tiểu đã giảm được 54%. Kết quả này có được chính nhờ hai chất, một là galactomannan giúp làm chậm tốc độ hấp thu đường vào máu, hai là acid amin 4-hydroxyisoleucin kích thích sự tiết insulin nhờ đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu. Như vậy hạt methi rất hữu ích cho cả hai nhóm tiểu đường type 1 và 2.
Ngoài ra hạt Methi còn có tác dụng:
Hạt Methi- Chữa rối loạn tiêu hóa, dạ dày, chống thiếu máu, hạ sốt, chống nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm họng, ho, viêm phổi, viêm xoang, khó thở, nhiều đờm, Mỗi ngày uống 4 tách trà hạt Methi, các triệu chứng trên sẽ được cải thiện rõ rệt.
- Chống lại các tác nhân gây hại cho gan: các nghiên cứu gần đây còn chứng minh hạt Methi còn có tác dụng bảo vệ tế bào gan chống lại các tác nhân gây hại cho gan như rượu, hóa chất, thực phẩm và giúp điều trị sạn thận rất tốt.
- Chữa suy sinh dục nam (aphrodisiac) và chữa ung thư vú.
+Riêng đối với phụ nữ, hạt Methi còn có các công dụng tốt như:
- Điều kinh: Giúp cho phụ nữ có cảm giác dễ chịu không đau đớn trong thời kỳ có kinh, trị huyết trắng.
- Tăng tiết sữa: hạt khô tán thành bột, trộn chung với bột mì và đường chế thành bánh có tên là halwa ăn một lượng nhỏ (5-10g) mỗi ngày sẽ giúp cho cơ thể trở lại bình thường nhanh chóng sau khi sanh. Hạt xay thô uống mỗi ngày sẽ giúp cho các bà mẹ có nhiều sữa để cho con **.
Theo các nghiên cứu hạt Methi được sử dụng từ lâu đời để làm thực phẩm và không gây ra những phản ứng độc hại nào.
cây cà ri ấn độ

Cách dùng để phòng ngừa bệnh:
Cách dùng rất đơn giản, mỗi ngày khoảng 15 - 20 g hạt, rang hạt cho thơm, tán thành bột, pha nước uống, hoặc lấy hạt sống chưa rang, ngâm trong ly có chứa 200 ml nước lạnh, để qua một đêm cho hạt nở ra, sáng dậy uống hết nước trong ly, bỏ xác. Hạt có mùi thơm như vị rau cần tây, dễ uống. Hạt methi được xếp vào nhóm gia vị nên không có độc tính, tuy nhiên nếu dùng quá liều sẽ có cảm giác khó chịu ở bụng, dạ dày, phụ nữ có thai gần đến ngày sinh không nên dùng vì có thể gây sẩy thai.
Cách dùng cho người bệnh tiểu đường
* Cách 1 : cho 01 muỗng hạt Methi vào ly nước nóng 50 – 70 độ khoảng 10 phút, sau đó ăn hạt và uống nước 2 – 3 lần/ ngày trước bữa ăn 1h.
* Cách 2 : cho 02 – 03 muỗng hạt Methi vào ấm trà rót nước nóng chờ khoảng 5 phút, uống 2- 3 lần tới khi nước nhạt màu ( giống như pha và uống trà ).
* Cách 3 : Cho hạt Methi vào ấm đun sôi 3 – 5 phút, lọc bỏ bả. Uống nóng, để nguội hoặc bỏ vào tủ lạnh để uống trong ngày
* Cách 4 : Nếu muốn thơm ngon hơn thì có thể xao vàng rồi hãm nước và uống nóng hoặc đóng chai để tủ lạnh uống như nước lọc trong ngày. Với cách này cần tăng liều dùng lên khoảng 1,2 – 1,5 lần
* Cách 5 : Hấp cơm, làm bánh, nước sốt, làm sinh tố, sữa chua,…
Liều dùng
* Tiểu đường type 1: 50-100gr/ngày
* Tiểu đường type 2: 25-50gr/ngày

Sử Dụng Hiệu Quả Cây Chùm Ngây Ở Người Dân Philippines :

  Với người dân Philippines, cây chùm ngây là loại thực phẩm không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. Chùm ngây cũng mọc rất nhiều ở nước ta nhưng chưa được nhiều người biết tới.

Trong khi các quý ông, quý bà bỏ nhiều công sức, tiền bạc để tìm kiếm các loại thần dược phòng the quý hiếm, đắt đỏ như tinh hoàn hải cẩu, sừng tê giác, đông trùng hạ thảo… thì có một loại thảo dược thiên nhiên được mệnh danh là “tiên đơn trường xuân”, rất dễ trồng ở khắp nơi trên thế giới lại bị bỏ quên.

Đó là cây chùm ngây, có tên khoa học là Moringa oleifera (M. Pterygosperma). Loại thảo mộc này vốn là thức uống tăng cường sinh lực truyền thống cho cả nam lẫn nữ của người dân Philippines. Điều đặc biệt là ngoài tác dụng phòng the, thì toàn bộ các phần trên thân cây đều có thể dùng làm thức ăn hoặc làm thuốc.

“Thần dược phòng the” cho cả hai giới

Vượt xa những loại thảo dược khác thường chỉ chứa một số hoạt chất nhất định và có tác dụng đối với một số bệnh lý hạn chế, chùm ngây được cho là loại cây hữu dụng bậc nhất thế giới với vô vàn lợi ích cho sức khỏe con người. Nó là loài thực vật giàu vitamin nhất trong thiên nhiên với các loại vitamin A, B1, B2, B3, B6, B7, C, D, E và K… Các bộ phận của cây đều chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, beta-caroten, acid amin và nhiều hợp chất phenol. Ngoài ra, trong chùm ngây còn có một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất quý hiếm như zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquinic acid, kaempferol....

Trong lịch sử y thuật dân gian, chùm ngây được dùng từ hàng nghìn năm nay ở các nước có nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ấn Độ, Ý. Tại Ấn Độ, nó được dùng để chữa trị hơn 300 loại bệnh khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học hiện đại chỉ thực sự biết đến và tiến hành nghiên cứu loài cây này qua thức uống truyền thống của người Philipines – trà chùm ngây.

Đối với người dân Philippines thì chùm ngây giống như một loại thực phẩm không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. Người ta sử dụng món canh chùm ngây, uống trà chùm ngây để tăng cường sinh lực và đặc biệt là dùng chiết xuất từ lá, hạt chùm ngây để trị chứng bất lực ở đàn ông, tăng cường khả năng ham muốn ở phụ nữ. Thậm chí, người dân nước này còn tôn vinh chùm ngây là “tiên đơn trường xuân” bởi tác dụng trong việc chống lão hóa và bệnh tật.

Theo một nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí thần kinh học của Mỹ năm 2012 thì quan niệm chùm ngây có tác dụng điều trị rối loạn chức năng tình dục ở nam giới trong y học dân gian hoàn toàn có cơ sở. Nghiên cứu được thực hiện trên chuột đực wistar có trọng lượng từ 200-250g. Những con chuột này được uống chiết xuất từ lá chùm ngây trong vòng 14 ngày với liều lượng tăng dần từ 10, 50 đến 250 mg mỗi ngày, mỗi lần là 30 phút trước khi tiếp xúc với chuột cái.

Sau khi uống chiết xuất từ lá chùm ngây, những con chuột đực thí nghiệm được đánh giá là có hành vi tình dục mạnh mẽ hơn, thời gian xuất tinh lâu hơn. Nghiên cứu thêm cơ chế tác động lên chuột, các nhà khoa học xác định, chiết xuất từ chùm ngây có thể làm tăng cường ham muốn tình dục và hiệu suất quan hệ ở nam giới. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết vẫn đang tiếp tục những nghiên cứu khác để củng cố kết quả này.

Trong những nghiên cứu chung về chùm ngây khác, các nhà khoa học cũng cho biết rằng những hoạt chất có trong lá của loài cây này có thể giúp nâng cao số lượng và chất lượng tinh trùng nam giới. Lá chùm ngây chứa hơn 90 chất dinh dưỡng như kẽm, vitamin D, vitamin A, vitamin C, protein và 46 chất chống oxy hóa.

cây chùm ngây
người dân Philippines thu hoạch cây chùm ngây


 Theo đó, những người đàn ông có nồng độ vitamin D ít nhất 30 nanogram/ml máu cho thấy nồng độ testosterone cao hơn đáng kể so với nam giới có mức vitamin D thấp hơn. Testosterone là kích thích tố tình dục quan trọng nhất. Ở nam giới, nó chủ yếu chịu trách nhiệm về sự phát triển của cơ quan sinh dục, sự hình thành và duy trì các đặc điểm giới tính nam điển hình, sản xuất tinh trùng, kiểm soát ham muốn. Cung cấp cho cơ thể đủ lượng vitamin D có tác dụng tích cực đối với việc đảm bảo mức độ testosterone. Như vậy, chiết xuất từ lá chùm ngây có tác dụng tăng mức testosterone trong huyết thanh và tinh hoàn, tăng lưu lượng máu đến cơ quan sinh dục nam và kích thích hệ thống thần kinh để tăng cường ham muốn tình dục.

Đối với nữ giới, tuy chưa có nghiên cứu khoa học nào về việc chùm ngây giúp tăng cường khả năng tình dục nhưng những người phụ nữ sử dụng loài thảo mộc này trong thời gian dài đều khẳng định rằng, họ có sự thay đổi đáng kể trong đời sống gối chăn. Thật ra, chỉ cần nhìn vào thành phần dinh dưỡng của chùm ngây với rất nhiều khoáng chất và vitamin hữu ích cho việc chống lão hóa, bồi bổ cơ thể cũng đủ thấy phụ nữ sẽ được hưởng lợi những gì khi sử dụng chúng.

“Tiên đơn” ngay cạnh chúng ta

Nhận thức được giá trị của chùm ngây, nhiều quốc gia trên thế giới đang tích cực trong việc sử dụng chùm ngây làm thực phẩm và làm thuốc. Hiện đang có chương trình khuyến khích trồng chùm ngây ở 80 quốc gia trên toàn thế giới. Loài thảo dược này phát triển tốt nhất ở vùng nhiệt đới và may mắn, Việt Nam chúng ta có lợi thế này.

Ở nước ta, cây chùm ngây từ lâu đã được trồng làm nọc trầu (làm trụ để trầu bám leo lên) tại khu vực Ninh Thuận, là nguồn thực phẩm chính của đồng bào Chăm và Raglay; mọc hoang và trồng làm rau ở Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Kiên Giang và đảo Phú Quốc. Nhìn chung, phần lớn người dân Việt Nam mới chỉ biết tới chùm ngây như một loại cây mọc hoang chứ chưa biết được hết công dụng hữu hiệu mà nó mang lại, nhất là với đời sống gối chăn.

Theo GS-TS Võ Tòng Xuân thì trong thời gian du học tại Philippines năm 1961, ông đã thấy món canh chùm ngây (người Philippines gọi là malunggay) được dùng phổ biến trong các bữa ăn của nhà ăn ký túc xá, trong nhà trẻ, trường mẫu giáo. Chùm ngây được người Philippines chế biến thành nhiều món ăn khác nhau và góp phần nâng cao sức khỏe người dân nhờ vào nguồn dinh dưỡng có trong lá và trái.

Đối với việc hỗ trợ đời sống phòng the thì sử dụng chiết xuất từ lá, hạt chùm ngây là tốt nhất. Tuy nhiên, một phương pháp “mưa dầm thấm lâu” vừa dễ chế biến lại vừa dễ sử dụng là dùng lá chùm ngây nấu canh. Có thể nấu các món canh mặn với tôm, tép, cá trê, thịt nạc… bằng cách sau khi nêm nếm cho vừa ăn thì dùng lá chùm ngây non, đọt non rửa sạch bỏ vào khi nước đang sôi rồi ngừng lửa ngay.

Cây chùm ngây rất dễ trồng, có thể trồng vừa làm hàng rào, vừa làm rau ăn, có thể trồng trong chậu để khai thác lá, trồng quy mô lớn để lấy nguyên liệu chế biến. Có thể trồng thành vườn rừng hoặc nông-lâm kết hợp, hoặc trồng xen, trồng thành băng theo đường đồng mức để chống xói mòn đất và cải tạo đất.

Có ba phương pháp trồng: gieo hạt trồng trực tiếp, trồng cây từ hạt và trồng bằng hom. Chùm ngây rất dễ tính, có thể phát triển ở nhiều chân đất mà không cần bón phân. Tuy nhiên, cần lưu ý tránh không để đọng nước, nếu không cây sẽ chết. Ngoài ra, phải làm sạch cỏ và để có năng suất cao cũng nên bón phân, nên bón phân chuồng đã hoai khi trồng để bộ rễ phát triển nhanh. Tháng đầu tiên, nếu đất không đủ độ ẩm, phải tưới cho rễ cây phát triển.

Ông Trương Văn Hộ, kỹ sư Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam là người đầu tiên nghiên cứu chùm ngây tại nhà sau khi có 9 hạt giống được một người bạn mang về từ Philippines tặng. Ông cho biết: “Ở miền Bắc có gió mùa đông bắc nên thời vụ gieo trồng chùm ngây thích hợp là vào cuối mùa xuân, bắt đầu mùa hè, khi nhiệt độ cao dần đạt 25 độ C.

Cây chùm ngây được sử dụng như một loại rau. Lá và cành non nấu canh, hương vị tương tự rau ngót Việt Nam. Lá non có thể ăn sống. Quả non nấu ăn tương tự đậu ăn quả. Hoa cũng dùng làm món ăn. Hạt già rang chín dùng làm món khai vị. Rễ có thể dùng làm thuốc. Thân cây có nơi dùng làm giàn leo cho hồ tiêu hoặc vani”. Với đặc điểm dễ trồng, dễ chăm và công dụng tuyệt vời như vậy thì không có lý do gì để chúng ta bỏ phí loại “tiên đơn trường xuân” này.

Cây cứu loài người?

Vì chùm ngây có giá trị hết sức to lớn về dinh dưỡng và chữa bệnh, lại là cây dễ trồng, rẻ tiền, dễ kiếm, dễ sử dụng nên Tổ chức Lương - Nông (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã gọi chùm ngây là cây cứu loài người trong thế kỷ 21; đặc biệt là cây của thế giới thứ ba, cây của người nghèo trên toàn thế giới. TS Albert Sanchez, nhà Khoa học Mỹ có nhiều đóng góp trong việc chữa trị ung thư bằng các sản phẩm tự nhiên, đồng thời là nhà sáng lập tổ chức Giải cứu hành tinh (Saving the Planet Foudation) hết sức tin tưởng vào cây chùm ngây.

Ông cho biết: “Nếu chúng ta quảng bá cho mọi người biết về lợi ích của cây chùm ngây, chúng ta có thể cứu được cả thế giới thoát ra đói khát… Nếu mọi người dùng cây chùm ngây hàng ngày sẽ góp phần bảo vệ họ trước các bệnh hiểm nghèo”.
 theo AFamily

Cây Chùm Ngây


lá và hoa chùm ngây
lá và hoa chùm ngây
• Tên thường gọi : Chùm ngây (VN), Moringa (international) , Drumstick tree (US), Horseradish tree, Behen, Drumstick Tree, Indian Horseradish, Noix de Bahen.
• Tên Khoa học: Moringa oleifera hay M. pterygosperma thuộc họ Moringaceae
• Trong nhà Phật gọi là cây Độ Sinh (Tree of Life )
Các nhà khoa học dược nghiên cứu thực vật học, dựa vào hàm lượng dinh dưỡng và nguồn dược liệu quí hiếm , đã không ngần ngại đặt tên cho nó là cây Thần Diệu ( Miracle Tree) .
Nguồn gốc : Cây Chùm Ngây xuất xứ từ vùng Nam Á, có lịch sử hơn 4 ngàn năm , nhưng phổ biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi. Cây Chùm Ngây rất phổ thông ở Ấn Độ và được dân tộc Ấn Độ trân trọng đặt tên là cây Độ Sinh .

bột chùm ngây
bột chùm ngây
Lợi ích Cây Chùm Ngây :
Cây Chùm Ngây ( Moringa Oleifera ) đã có mặt trên 80 quốc gia  , những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng. Các quốc gia đang phát triển sử dụng Chùm Ngây như dược liệu kỳ diệu kết hợp chữa những bịnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và thực phẩm dinh dưỡng.
 Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng ,  là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics. Cây Chùm Ngây, cung cấp một hỗn hợp pha trộn nhiều hợp chất như zeatin, quercetin, beta-sitosterol caffeoylquinic acid và kaempferol , rất hiếm gặp tại các loài cây khác .
bản phân tích cây chùm ngây
Bảng phân tích giá trị dinh dưỡng cây chùm ngây
Công Dụng Cây Chùm Ngây :
Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa.. có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy-hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm.. Cây đã được dùng để trị nhiều bệnh trong Y-học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á. (Phytotherapy Research Số 21-2007).  





Dinh Dưỡng Lá Cây Chùm Ngây
Lá moringa giàu dinh dưỡng hiện được hai tổ chức thế giới WHO và FAO xem như là giải pháp ưu việt cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh dưỡng, và là giải pháp lương thực cho thế giới thứ ba.
• Đối với trẻ em từ 1-3 tuổi, cứ ăn 20gr lá tươi moringa là cung ứng 90% Calcium , 100% Vitamin C, Vitamin A, 15% chat sat, 10% chất đạm cần thiết và hàm luợng Potassium , Đồng, …vàVitamin B bổ sung cần thiết cho trẻ .
• Đối với các bà mẹ đang mang thai và cho con bú, chi cần dùng 100gr lá tươi mỗi ngày là đủ bổ sung Calcium , Vitamin C, VitaminA ,Sắt , Đồng, Magnesium, Sulfur, các vitamin B cần thiết trong ngày. :



Cách dùng lá Chùm Ngây : 
Rau sống: lá tươi dùng trộn ăn sống như rau xà lách_ Nước sinh tố : xay 20gr lá chung với 2 muỗng cafe sữa, 2 muỗng café đường sữa uống như uống sinh tố_Nấu canh : 100gr lá moringa nấu chung với 50gr thịt bò hoặc heo , hoặc nấu chay với 100gr nấm.
 

canh chùm ngây
canh chùm ngây

Dưỡng da từ lá Chùm Ngây : 
tại Mỹ và các nước Âu châu, cây Moringa được sử dụng rộng rãi trong công nghê dưỡng da , mỹ phẩm cao cấp.
Cách dùng đơn giản: các bà các cô có thể áp dụng ngay: giã nhuyễn 20gr lá, để không hoăc trộn với dầu lấy từ hat Moringa thoa đắp 2 lần, mỗi lần 7 phút, trong một ngày , trong một tuần sẽ thấy hiệu nghiệm. (kinh nghiệm)
( lưu ý : không nên ủ đắp trên da mặt quá lâu trên 10 phút )




Lọc nước với hạt cây Chùm Ngây : 
Hạt Chùm Ngây có chứa một số hợp chất “đa điện giải” (polyelectrolytes) tự nhiên có thể dùng làm chất kết tủa để làm trong nước.Kết quả thử nghiệm lọc nước : Nước đục (độ đục 15-25 NTU, chứa các vi khuẩn tạp 280-500 cfu ml(-1), khuẩn coli từ phân 280-500 MPN 100 ml(-1). Dùng hạt Chùm Ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ, đưa đến kết quả rất tốt (độ đục còn 0.3-1.5 NTU; vi khuẩn tạp còn 5-20 cfu; và khuẩn coli còn 5-10 MPN..) Phương pháp lọc này rất hữu dụng tại các vùng nông thôn của các nước nghèo..và được áp dụng khá rộng rãi tại Ấn độ (Journal of Water and Health Số 3-2005).

 
hạt chùm ngây
hạt chùm ngây


ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA CÂY :
 Cây thuộc loại đại mộc, có thể mọc cao 5 đến10m. Lá kép (có thể đến 3 lần= triple-pinnate) dài 30 - 60 cm, hình lông chim, màu xanh mốc; lá chét dài 12 - 20 mm hình trứng, mọc đối có 6 - 9 đôi. Hoa trắng, có cuống, hình dạng giống hoa đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ. Quả dạng nang treo, dài 25 - 30cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh. Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hòa Lan. Cây trổ hoa vào các tháng 1 – 2.
trái chùm ngây
trái chùm ngây


 Thành phần hóa học:
 Rễ chứa : Glucosinolates như 4-(alpha-L-rhamnosyloxy)benzyl glucosinolate (chừng 1%) sau khi chịu tác động của myrosinase, sẽ cho 4-(alpha-L-rhamnosyloxy)benzyl isothiocyanate. Glucotropaeolin (chừng 0.05%) sẽ cho benzylisothiocyanate.
 • Hạt chứa : Glucosinolates ( như trong rễ) : có thể lên đến 9% sau khi hạt đã được khử chất béo.Các acid loại phenol carboxylic như 1-beta-D-glucosyl-2,6-dimethyl benzoate.Dầu béo (20-50%) : phần chính gồm các acid béo như oleic acid (60-70%), palmitic acid (3-12%), stearic acid (3-12%) và các acid béo khác như behenic acid, eicosanoic và lignoceric acid..
 • Lá chứa: Các hợp chất loại flanonoids và phenolic như kaempferol 3-O-alpha-rhamnoside, kaempferol, syringic acid, gallic acid, rutin, quercetin 3-O-beta-glucoside. Các flavonol glycosides được xác định đều thuộc nhóm kaempferide nối kết với các rhamnoside hay glucoside.
 
THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG:
Bảng phân tích hàm lượng dinh dưỡng của quả, lá tươi và bột khô của lá cây Chùm Ngây theo báo cáo ngày 17/7/1998 của Campden and Chorleywood Food Research Association in Conjunction.
      http://www.moringatree.co.za/analysis.html
BẢNG PHÂN TÍCH HÀM LƯỢNG DINH DƯỠNG CỦA MORINGA
STT
THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG/100gr
TRÁI TƯƠI
LÁ TƯƠI
BỘT LÁ KHÔ
01
Water ( nước ) %
86,9 %
75,0 %
7,5 %
02
calories
26
92
205
03
Protein ( g )
2,5
6,7
27,1
04
Fat ( g ) ( chất béo )
0,1
1,7
2,3
05
Carbohydrate ( g )
3,7
13,4
38,2
06
Fiber ( g ) ( chất xơ )
4,8
0,9
19,2
07
Minerals ( g ) ( chất khoáng )
2,0
2,3
_
08
Ca ( mg )
30
440
2003
09
Mg ( mg )
24
25
368
10
P ( mg )
110
70
204
11
K ( mg )
259
259
1324
12
Cu ( mg )
3,1
1,1
0,054
13
Fe ( mg )
5,3
7,0
28,2
14
S ( g )
137
137
870
15
Oxalic acid ( mg )
10
101
1,6
16
Vitamin A - Beta Carotene ( mg )
0,11
6,8
1,6
17
Vitamin B - choline ( mg )
423
423
-
18
Vitamin B1 - thiamin ( mg )
0,05
0,21
2,64
19
Vitamin B2 - Riboflavin ( mg )
0,07
0,05
20,5
20
Vitamin B3 - nicotinic acid ( mg )
0,2
0,8
8,2
21
Vitamin C - ascorbic acid ( mg )
120
220
17,3
22
Vitamin E - tocopherol acetate
-
-
113
23
Arginine ( g/16gN )
3,66
6,0
1,33 %
24
Histidine ( g/16gN )
1,1
2,1
0,61%
25
Lysine ( g/16gN )
1,5
4,3
1,32%
26
Tryptophan ( g/16gN )
0,8
1,9
0,43%
27
Phenylanaline ( g/16gN )
4,3
6,4
1,39 %
28
Methionine ( g/16gN )
1,4
2,0
0,35%
29
Threonine ( g/16gN )
3,9
4,9
1,19 %
30
Leucine ( g/16gN )
6,5
9,3
1,95%
31
Isoleucine ( g/16gN )
4,4
6,3
0,83%
32
Valine ( g/16gN )
5,4
7,1
1,06%
                         

so sánh hàm lượng
so sánh hàm lượng

  • Vitamin C 7 lần nhiều hơn trái Cam
  • Vitamin C tăng cường hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể và chữa trị những chứng bệnh lây lan như cảm cúm.
  • Vitamin A 4 lần nhiều hơn Cà-rốt
  • Vitamin A hoạt động như một tấm khiên chống lại những chứng bệnh về mắt , da và tim , đồng thời ngăn ngừa tiêu chảy và những chứng bệnh thông thường khác..             
  • Calcium 4 lần nhiều hơn sữa
  • Calcium bồi bổ cho xương và răng, giúp ngăn ngừa chứng loãng xương.. 

  • Chất sắt 3 lần so với cải bó xôi
  •  Chất Sắt là một chất cần thiết đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn Oxy trong máu đến tất cả bộ phận trong cơ thể..

  • Chất đạm (protein) 2 lần nhiều hơn Ya-ua
  • Chất Đạm là những chất xây dựng tế bào cho cơ thể, nó được làm ra từ  at-xit A-min, thông thường at-xit A-min chỉ có những sản phẩm từ động vật như thịt trứng, sữa… kỳ lạ thay lá Chùm Ngây có chứa những At-xít Amin cần thiết đó.
  • Potassium 3 lần nhiều hơn trái chuối
  • Potassium là chất cần thiết cho óc và hệ thần kinh .

Cây Cỏ Bạc Đầu Ông

Đây là cây cỏ Bạc Đầu Ông theo người dân thường gọi . Người dân thay dùng để  điều trị bệnh tiểu đường rất hữu hiệu và giúp ngừa các bệnh khác , với các biến chứng có nguồn gốc từ căn bệnh tiểu đường.
Cây Cỏ Bạc Đầu Ông Nguyên bó
Cây Cỏ Bạc Đầu Ông Nguyên bó

Các bạn không phải tốn tiền , chỉ cần các bạn chịu khó đi tìm nhổ về , phơi khô hoặc dốp dốp ( chưa khô lắm ) cũng được , sau khi rửa sạch đem Cây Cỏ Bạc Đầu Ông nấu như nấu nước chè xanh tươi nhà quê hay nấu uống thay nước uống mỗi ngày.
Cây cỏ Bạc Đầu Ông
Cây cỏ Bạc Đầu Ông

Đặc tính của loại cỏ này là chịu nóng, chịu khô cằn , hoa màu trắng lá xanh, thân cây mảnh mai nằm trên mặt đất nhú bông từ lúc mới mọc cho đến khi phát triển mạnh lên, lớn lên, lan tỏa rộng ra. cỏ này cũng thuộc dạng hiếm, mọc ở vùng miền Đông Nam bộ phần nhiều.
bông cây cỏ bạc đầu ông
bông cây cỏ bạc đầu ông

Cây Cỏ Bạc Đầu Ông
thường mọc rất dọc theo hai bên lề đường , thường gặp trên đường đi Đặc tính của loại cỏ này là chịu nóng, chịu khô cằn , hoa màu trắng lá xanh, thân cây mảnh mai nằm trên mặt đất nhú bông từ lúc mới mọc cho đến khi phát triển mạnh lên, lớn lên, lan tỏa rộng ra. cỏ này cũng thuộc dạng hiếm, mọc ở vùng miền Đông Nam bộ phần nhiều.Vũng tTàu , Thủ Đức , Củ Chi , Hóc Môn
rể cây bạc đầu ông
rể cây bạc đầu ông

Để nhanh chóng thuyên giảm thì nên nấu uống thay nước mỗi ngày , với Cây Cỏ Bạc Đầu Ông  nầy .